O.K

TÊN: O.K

NĂM XUẤT HÀNH: 6/1970

QUỐC GIA: Tây Đức

ĐẠO DIỄN: Micheal Verhoeven

DIỄN VIÊN: Gustl Bayrhammer, Eva Mattes, Hartmut Becker, Hanna Burgwitz

NỘI DUNG: o.k., đôi khi được gọi là O.K., là một bộ phim phản chiến của Tây Đức sản xuất năm 1970, biên kịch và đạo diễn bởi Michael Verhoeven. Phim này đã được chọn và là một ứng cử của chính thức của ở Tây Đức và đến Giải Oscar và đây là lần thứ 43 của cho hạng mục Phim này và đã nói tiếng nước ngoài xuất sắc, nhưng mà vãn không được đề cử nào. Bộ phim cũng tham dự Liên hoan phim quốc tế Berlin lần thứ 20, tuy nhiên, sự kiện này đã bị hủy bỏ và không có giải thưởng nào được trao, do tranh cãi xung quanh chính bộ phim.  Câu chuyện lấy bối cảnh trong một khu rừng ở Bavarian và tái hiện Sự cố đồi 192 năm 1966 trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Những người lính mặc quân phục Hoa Kỳ, sử dụng tên thật nhưng nói với chất giọng Bavarian. Đối với bộ phim có kinh phí rất nhỏ này với sự cố tình coi thường chủ nghĩa hiện thực, đã tạo ra Hiệu quả gián cách Brechtian. Bốn nhân viên cứu hỏa Hoa Kỳ đi tuần tra ngang qua một cô gái trẻ người Việt Nam và sau đó bắt cóc, tra tấn rồi giết cô. Chỉ có một người lính từ chối tham gia và đã tố cáo sự việc lên cấp trên, những kẻ đã chối bỏ sự việc, coi nó như một sự cố bình thường trong chiến tranh. Người lính này phải sống trong sợ hãi, cuối cùng những đồng đội kia đã phải trả giá, bị kết án nhưng rồi những bản án cũng được giảm dần theo những lần kháng cáo của họ. Vào ngày 17 tháng 11 năm 1966, sau khi một tiểu đội, gồm năm người, được phân công nhiệm vụ do thám quần thể hang động quanh đồi 192 thuộc thung lũng Bồng Sơn, bị tình nghi là nơi trú ẩn của Việt CộngTrung sĩ David Edward Gervase (20 tuổi) và Binh nhất Steven Cabbot Thomas (21) đã nói chuyện với ba đồng đội khác (Binh nhất Robert M. Storeby, 22 tuổi; anh em họ Cipriano S. Garcia, 21 tuổi và Joseph C. Garcia, 20) về kế hoạch bắt cóc một "cô gái xinh đẹp" trong thời gian trinh sát cho ngày mai, và "sau 5 ngày, chúng ta sẽ giết cô ta", tuyên bố điều này "tốt cho tinh thần của tiểu đội". Khoảng 05:00 sáng ngày 18 tháng 1, đội đi vào trinh sát một ấp nhỏ thuộc làng Cát Tường, quận Phù Mỹ để tìm kiếm đối tượng phụ nữ. Sau khi tìm thấy thiếu nữ khoảng 18-20 tuổi đang ngủ với gia đình trong túp lều,  họ đi đến trói cổ tay cô bằng dây thừng, bịt miệng và đưa đi. Theo hồi tưởng của Storeby, khi cả đội rời khỏi ngôi làng, mẹ của cô gái này chạy theo van nài thả con bà, và sau đó đưa cho cô một chiếc khăn rằn tạm biệt trước khi đội đi tiếp; Thomas đã dùng khăn đó để nhét vào miệng cô gái ngăn không cho kêu cứu. Sau khi cắm trại trong một cái lều (hooch) bỏ hoang, bốn trong số những người lính thay phiên nhau hãm hiếp người phụ nữ. Thomas đã dùng những hành động và lời nói để khiêu khích lòng tự ái đồng đội cùng tham gia, tuy nhiên lại không thuyết phục được Storeby, bất kể việc đe dọa tính mạng của anh; trong lúc cô gái bị hãm hiếp, anh đã đi ra ngoài canh gác phòng Việt Cộng. Chiều tối hôm đó, sức khỏe của cô gái nhanh chóng chuyển biến xấu, cơn sốt và cơn ho đã xuất hiện. Đến sáng hôm sau, tình trạng cô ngày càng trở nên tồi tệ, khiến các đồng đội Storeby thống nhất sắp xếp lại thời điểm kết liễu cô gái là ngay trong hôm đó; thi thể sẽ ném xuống từ đồi 192. Vì Storeby bị coi là mối nguy cho toàn đội bởi không tham gia vào tội ác, mọi người quyết định rằng anh sẽ là người giết Mao; sau khi Storeby và một vài người khác cũng từ chối, Thomas đã xung phong giết cô gái. Vào 09:00 sáng ngày 19 tháng 11 năm 1966, khi cả đội đưa cô lên đỉnh đồi, họ phải tham gia vào một cuộc đọ súng với Việt Cộng. Lo lắng rằng người phụ nữ sẽ bị nhìn thấy trong đội hình, Thomas đưa cô gái vào một bụi cây rậm rạp và đâm cô bằng con dao săn ba lần nhưng không giết chết được. Khi cô cố gắng chạy trốn, ba trong số những người lính đã đuổi theo. Thomas bắt gặp cô gái và bắn vào đầu cô với khẩu súng trường M16. Sau khi ra tay, Gervase báo cáo với trung đội trưởng rằng một nữ Việt Cộng bị bắn chết do đội bắt gặp chạy lên đồi và không thể giữ lại. Storeby đã quyết định báo cáo tội ác này với cấp trên. Lúc đầu, ban chỉ huy, bao gồm cả chỉ huy đại đội, không có hành động gì. Bất chấp lời đe dọa đến tính mạng bởi những người lính tham gia vào vụ hiếp dâm và giết người, Storeby vẫn quyết tâm phải khiến họ bị trừng phạt. Sự kiên trì của anh trong việc báo cáo tội ác cho các cơ quan chức năng lên cao hơn cuối cùng dẫn đến một tòa án binh chống lại bốn đồng đội của mình tại Việt Nam. Thi thể Mao đã được tìm thấy trên một vách đá dưới chân đồi khi đang điều tra, ở tình trạng phân hủy nặng nề. Trong quá trình tố tụng, nạn nhân được em gái cô, Phan Thi Loc, xác định là Phan Thi Mao. Loc cho biết sau khi chị gái mình bị những người lính đưa đi, cô và mẹ đã ráo riết đi tìm Mao. Với sự hỗ trợ từ chính quyền Việt Nam Cộng hòa, họ tìm thấy căn lều nơi Mao bị đưa đến, và tại đó chỉ còn lại chiếc áo ngực vấy máu; phía quân đội nhanh chóng đốt cháy cả lều. Mẹ Mao sau này đã mất tích, mà theo Loc là bởi Việt Cộng bắt cóc và buộc tội mẹ cô giúp đưa quân đội miền Nam đến một kho vũ khí ở khu vực đồi 192. Loc và cha cô sau đó chuyển đến sinh sống tại một ngôi làng cách đó vài dặm. Trong khi xét xử, hầu hết nhân chứng đều lên tiếng ủng hộ các bị cáo bởi lý lịch trước đó của họ. Vào tháng 3 và tháng 4 năm 1967, Thomas, Cipriano Garcia và Joseph Garcia bị kết án về tội giết người không chủ đích. Gervase bị kết tội vì giết người có tính toán trước. Tại phiên tòa xét xử Thomas, người thực hiện vụ đâm và nổ súng, công tố viên yêu cầu bồi thẩm đoàn cho một bản án tử hình. Tuy nhiên, tòa đã kết án Thomas tù chung thân và phạt lao động khổ sai. Tất cả những người lính (không bao gồm Storeby) bị kỷ luật ở mức tước quân tịch (dishonorable discharge). Sau khi các bị cáo chuyển đến Hoa Kỳ, những bản án này đã được xem xét lại và giảm đi rất nhiều. Thời hạn tù của Thomas giảm xuống còn 20 năm, rồi 8 năm, khiến anh đủ điều kiện để phóng thích sau một nửa thời gian đó. Thomas được tạm tha có điều kiện vào ngày 18 tháng 6 năm 1970. Tương tự, bản án ban đầu của Gervase với 10 năm lao động khổ sai đã giảm xuống còn 8. Anh ra tù sớm vào ngày 9 tháng 8 năm 1969.  Năm 1968, Joseph Garcia được tha bổng sau phiên phúc thẩm bản án 15 năm đầu tiên và toà huỷ quyết định tước quân tịch Garcia với lý do vi phạm quyền công dân theo Tu chính án thứ 5, lời thú tội của anh vì thế không được ghi nhận. Án tù 4 năm của Cipriano Garcia cũng rút ngắn xuống còn 22 tháng.