VŨ KHÚC CON CÒ (2002)

 Tên phim: Vũ Khúc Con Cò (2002)

Đạo diễn: Nguyễn Quang Sáng

Năm Phát Hành: 2002

Quốc gia: Việt Nam

Diễn viên: Chi Bảo, Ngọc Hiệp, Ngô Quang Hải, Đỗ Hải Yến

Nội dung: Chuyện phim Vũ Khúc Con Cò cố nói lên những phi lý của cuộc chiến, nhưng Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Duy, Trần Văn Thuỷ, Thu Bồn, Wayne Karlin và cả Ngô Vĩnh Long nữa đã quên. Họ đều quên, không nhắc đến điều phi lý nhất. Dù đất nước đã nối liền, gần ba mươi năm sau cuộc chiến, năm triệu người Việt Nam đã nằm xuống, để hôm nay – lòng người vẫn chưa nối; để hôm nay – con người và đất nước đang được hưởng được những gì? Dân chưa giầu, nước không mạnh, xã hội không công bằng, không dân chủ và cũng chẳng văn minh. Canada, xứ lạnh tình nồng, như ước lệ đầu môi của những người sinh sống ở đây.  Mùa hè là mùa của ngày dài đêm ngắn, mùa của mặt trời, mùa có nhiệt độ trung bình trên số không; vì cũng là mùa ngắn ngủi như tiếng hát ve sầu, hè ở Montréal hay ở những đô thị Bắc Mỹ khác là lúc người ta đem đời sống bầy ra ngoài phố. Bắt đầu từ tháng năm, mùa hội đã rộn ràng; nào là hội kịch, hội bia, hội nhạc, hội múa, ngày hội văn hoá — từ Á châu sang Trung Mỹ đến Phi châu và nhiệu hội lễ khác kéo dài suốt bốn tháng ấm áp. Đầu tháng chín, phố phường Montréal đang nhộn nhịp trong Đại Hội Điện Ảnh Thế Giới.  Nói là Montréal nhộn nhịp trong không khí điện ảnh không có nghĩa là người Việt ở đây cũng nhộn nhịp theo; nói chung và thật phiến diện, có lẽ đại đa số đồng bào ta ở thành phố này chẳng quan tâm gì lắm đến những sinh hoạt gọi là văn hóa của người khác, bất kỳ là tranh ảnh, chiếu bóng, kịch nghệ, âm nhạc hay văn học. Anh Meo Bờn, câu chuyện muốn kể anh nghe lần này là Đại Hội Điện Ảnh năm nay ở Montréal.  Đại Hội Điện Ảnh có hai phim Việt Nam tham dự là Vũ Khúc Con Cò và Thung Lũng Hoang Vắng.  Thung Lũng Hoang Vắng kể chuyện hai cô giáo, ông hiệu trưởng và anh kỹ sư địa chất loanh quanh, luẩn quẩn trong tam giác tình yêu ở vùng núi rừng thiếu thốn, với lũ học trò mươi đứa ở miền cao cực Bắc Việt Nam. Tuy đề tài phim truyện không bắt người xem phải ray rứt suy nghĩ, khung cảnh hùng vĩ bao la ở Sa Pa và công viên Cúc Phương làm nhân vật nhỏ lại, dễ gây xúc động.  Nói chung đây là một trong rất ít phim Việt Nam đang được ưa chuộng và có đủ phẩm chất để phát hành trong vùng Đông Nam Á hay các quốc gia Âu Mỹ. Thế cũng tạm đủ về Thung Lũng Hoang Vắng, anh Meo Bờn nhá!

Bây giờ đến Vũ Khúc Con Cò. Chiều trong tuần, con phố chính không còn một khoảng trống đậu xe và người đi nườm nượp; Montréal vẫn còn không khí mùa hè và người đi xem đông thật đấy. Ngồi được vào ghế thì phim đã bắt đầu ở trại Xuân Mai vào mùa Xuân 1968 với khuôn mặt năm vai chính, năm thanh niên trên đường vào cuộc chiến. Qua vài phút đầu phim tôi cảm thấy như tài tử và khung ảnh gần mình hơn; chẳng hiểu gần hơn vì diễn viên nói cùng ngôn ngữ hay gần hơn vì khung cảnh dù không quen nhưng cũng biết đó là giải núi sông nước Việt hay gần hơn vì ngàn cây xanh ngát giữa núi rừng Việt Nam trùng trùng điệp điệp. Cũng có thể tôi cảm thấy thân quen vì cuộc chiến Việt Nam là đề tài máu thịt của vài thế hệ đang qua, như một anh bạn ở đây đã so sánh.  Trong những giây phút đầu tiên ấy, tôi nghe tiếng bom, tiếng xe, tiếng đạn chạy quanh rạp. Thì ra âm thanh nổi, kỹ thuật Dolby là đây.  Câu chuyện theo chân của người trong cuộc qua ký ức của một cựu phóng viên chiến trường kể lại với những người bạn và cả kẻ thù.  Lối kể chuyện không theo không gian đường thẳng hay chen vào những khoảng flashback, những khúc quanh, vẫn còn kém về kỹ thuật, ngắn và không cần thiết, giật ngược người xem khỏi chuỗi suy nghĩ, phức tạp hóa việc theo dõi chuyện phim. Năm vai chính trong phim, mỗi người một định mệnh; những định mệnh chẳng khác hàng triệu người trong bao cuộc chiến. Cuộc chiến nào chẳng có mất mát, có máu lửa, yêu, thù, thương, hận rối tung vào nhau. May là một thanh niên vui tính, mộng ước thật bình thường, mơ ngày hòa bình về quê lấy vợ sinh con.  Mạnh, thiếu niên mười sáu tuổi, nói dối để được ra trận, lúc nào cũng cố giữ vẻ gan góc và dĩ nhiên là người khóc trước nhất  khi vưa thấy bộ mặt thật của chiến trường. Hình ảnh vợ trẻ con thơ lúc nào cũng bám sát Văn, người cán bộ chính trị lãng mạn, thích làm thơ, viết nhật ký, tay đàn miệng hát. Vinh, trầm lặng, người quay phim chiến trận, không cần được xướng danh; có lẽ đây là nhân vật trưởng thành nhất. Như những phóng viên mặt trận khác, anh chỉ được vũ trang bằng giấy bút và máy quay phim để đương đầu với đạn bom và khói lửa. Lâm, người đặc công, anh gián điệp hoạt động trong vùng địch.  Gián điệp cũng yêu, cũng sinh con sau khi cưới con gái kẻ thù. Nhưng rồi vợ con phải bỏ anh đi ngày anh đang say men chiến thắng.  Tình chồng vợ, nghĩa cha con, thật hay chỉ là ảo tưởng, hay chỉ là phương tiện để cuộc chiến của anh đến đích, có người thắng, có kẻ thua? Phim truyện muốn nói đến những con người phải xông pha vào máu lửa, chịu mất mát, yêu, thù, thương, hận cũng chỉ mong cho mình tìm được một cuộc sống an bình với gia đình, với người thân thuộc.  Chiến tranh thật phi lý!