TÊN PHIM: Đinh Tiên Hoàng Đế

NĂM PHÁT HÀNH: 2019

QUỐC GIA: Việt Nam

ĐẠO DIỄN: Trần Tuấn Hiệp

DIỄN VIÊN: Bình Minh, Xuân Hòa, Chí Trung, Trung Dân, Phương Trinh, Hạnh Thúy, Nguyễn Châu

NỘI DUNG: Theo truyền thuyết ghi trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Vua này đã mồ côi cha từ nhỏ, và mẹ của ông là Đàm đã dẫn gia đình sống gần đền sơn thần trong động. Vào thời điểm còn rất trẻ, Vua thường cùng các bạn trong làng đi chăn trâu trên đồng. Dù kiến thức không bằng các bạn cùng trang lứa, Vua vẫn được tôn trọng và được chọn làm trưởng nhóm. Thường thì khi chơi đùa, Vua sẽ bắt các bạn chéo tay làm kiệu để cầm hoa lau và rước như nghi thức của thiên tử. Vào những ngày rảnh rỗi, Vua thường kéo các bạn của mình đi đánh trẻ con ở các thôn khác. Các đứa trẻ ở các thôn đó đều sợ hãi và phải chịu thua, và các bạn của Vua thì cứ như thường lệ, rủ nhau đi phục vụ kiếm củi và nấu ăn. Bà mẹ của Vua rất vui mừng vì thấy con trai của mình cũng giống như các đứa trẻ khác, biết làm việc vất vả. Một số phụ lão thường hay nói về Vua rằng: "Đứa bé này khí lượng như thế, chắc chắn sẽ làm nên một sự nghiệp. Nếu chúng ta không dạy dỗ, ngày sau sẽ hối hận." Chính vì vậy, các phụ lão đã dẫn Vua và các em của ông đến học tập và lập trường tại Sách Đào Áo. Người chú của Vua giữ sách Bông đã đánh với ông. Lúc đó, Vua còn rất trẻ và quân đội của ông chưa mạnh, nên đã thất bại trong trận đánh. Khi Vua đi qua cầu ở Đàm Gia Nương Loan, cầu bị gãy và Vua bị rơi xuống bùn. Người chú của Vua đã muốn đâm Vua, nhưng bỗng nhiên hai con rồng vàng đã xuất hiện để bảo vệ Vua. Người chú của Vua sợ hãi và bỏ chạy. Từ đó, ai cũng sợ Vua và không dám đối đầu với ông. Bất kể đánh đâu, Vua đều dễ dàng chiến thắng, và Vua được gọi là "Vạn Thắng Vương". Vào năm 944, Ngô Quyền - vị vua của nhà Ngô - đã qua đời. Anh vợ của Ngô Quyền là Dương Tam Kha đã tuyên bố trở thành vua và tự đặt mình là Dương Bình Vương. Tuy nhiên, vào năm 950, con trai thứ hai của Ngô Quyền - Ngô Xương Văn - đã lật đổ Dương Tam Kha và chiếm ngôi vua, xưng là Nam Tấn vương. Ngô Xương Văn đã đón anh trai của mình - Ngô Xương Ngập - về và cùng nhau cai trị đất nước, Ngô Xương Ngập xưng là Thiên Sách vương. Tuy nhiên, vào năm 954, Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập đã qua đời vì bệnh tật. Sau đó, vào năm 965, Ngô Xương Văn đã đi đánh thôn Đường và Nguyễn ở Thái Bình, nhưng lại bị phục binh bắn chết. Theo sách An Nam chí lược, tham mưu của Ngô Xương Văn là Ngô Xử Bình, Thứ Sử Phong Châu Kiều Tri Tả, Thứ Sử Ninh Châu Dương Huy và nha tướng Đổ Cảnh Thạc đã cố gắng tranh đoạt ngôi vua và đánh nhau với nhau, nhưng sau đó đều bị Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên. Đinh Bộ Lĩnh là người mở đầu cho triều đại Đinh, sau khi đánh bại lực lượng của Lữ Xử Bình và Kiều Công Hãn ở triều đình Cổ Loa. Trong quân đội của ông có sứ quân Đỗ Cảnh Thạc, một người rất mạnh, có thành cao hào sâu. Tuy nhiên, Đinh Bộ Lĩnh đã lên kế hoạch và tiến công bất ngờ vào Trại Quyền, khiến cho Đỗ Cảnh Thạc không thể ứng cứu được và cuối cùng bị trúng tên chết. Sứ quân Nguyễn Siêu đã chiếm được Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội) và được tin Đinh Bộ Lĩnh sắp đánh. Nguyễn Siêu đã đóng quân ở Thanh Đàm và luyện tập ngày đêm, đào hào đắp luỹ để phòng bị. Tuy nhiên, trong trận đánh đầu tiên, Đinh Bộ Lĩnh đã mất 4 tướng và lần thứ hai, ông đã lập kế hoạch bày binh bố trận giao chiến. Nguyễn Siêu chia một nửa quân ở lại giữ thành, một nửa cùng sứ tướng vượt sông tìm viện binh của các sứ tướng khác. Nhưng khi đến gần bờ bắc, quân Nguyễn Siêu đã gặp gió lớn, thuyền bị đắm. Đinh Bộ Lĩnh đã biết tin và phóng lửa đốt doanh trại. Quân Nguyễn Siêu đã tan và Nguyễn Siêu tử trận. Sứ quân Kiều Công Hãn đóng quân tại Phong Châu, chiếm 3 châu Thái Châu, Hào Châu và Phong Châu, xưng là Kiều Tam Chế. Tuy nhiên, vì thua chạy trước sức mạnh của Đinh Bộ Lĩnh nên ông đã đem quân xuống phía nam và hợp sức với Ngô Xương Xí. Khi đến thôn Vạn Diệp, Kiều Công Hãn đã bị một hào trưởng địa phương là Nguyễn Tấn đem quân chặn đánh và ông đã bị thương và chạy đến Lũng Kiều rồi mất tích. Vào thời kỳ đầu Đại Cồ Việt, nhiều sứ quân tỏ ra khá mạnh mẽ và có ý định lật đổ triều đình. Trong số đó, Nguyễn Khoan là một vị sứ quân Quảng Trị Quân được coi là vua vĩ đại. Tuy nhiên, vào cuối năm 967, Đinh Bộ Lĩnh đã dẫn quân tấn công và chiếm được vùng Tam Đái. Nguyễn Khoan không thể chống lại được, anh đã tử trận trong trận chiến đó. Sau đó, hai tướng và hai bà vợ của sứ quân này đã tự vẫn ở Ao Nâu, cạnh gò Đồng Đậu. Đinh Bộ Lĩnh tiếp tục tấn công thành Hồi Hồ, tướng quân Kiều Thuận đã không thể chống lại và phải vượt sông Hồng chạy sang thành Mè kết hợp với Ma Xuân Trường để tiếp tục chiến đấu chống lại Đinh Bộ Lĩnh. Tuy nhiên, thành Mè đã bị Đinh Bộ Lĩnh chiếm đóng, Kiều Thuận đã tử trận trong trận đánh này. Ma Xuân Trường đã chạy trốn và đến ngày nay, thị xã Phú Thọ vẫn còn dấu tích của thành Mè. Làng Trù Mật ở xã Văn Lung, thị xã Phú Thọ, còn có đền thờ Ma Xuân Trường và Kiều Thuận. Sứ quân Lý Khuê đã chiếm giữ vùng đất Luy Lâu bờ nam sông Đuống và đặt căn cứ ở Siêu Loại (Thuận Thành). Theo thần tích ở xã Bình Sơn (Thuận Thành, Bắc Ninh), sứ quân Lý Khuê đã đánh nhau với Đinh Bộ Lĩnh và thất bại tại làng Dương Xá (nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội). Vào đầu năm 968, sau khi chiếm lại vùng Bắc Ninh do các sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp và Lý Khuê cát cứ, Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh đã chuyển quân về Siêu Loại và cho Đinh Liễn và Nguyễn Bặc đem ba ngàn quân tiến đánh quân Lã Đường. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, trở thành vị vua đầu tiên trong lịch sử Việt Nam được phong tước Hoàng đế. Việc này đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử đất nước, khi nước Việt ta trở thành một quốc gia có chế độ hoàng đế giống với các quốc gia khác trong khu vực. Nếu so sánh với Trung Quốc, việc xưng Vương đã tồn tại từ rất lâu, còn xưng Đế thì chỉ từ thời Tần Thủy Hoàng mới xuất hiện. Trước đó, chữ Đế chỉ dùng để gọi Trời mà không dùng để gọi Vua. Tần Thủy Hoàng muốn khẳng định mình có uy quyền thống trị toàn bộ thế gian, nên đã đổi xưng từ Vương sang Hoàng đế sau khi thôn tính được 6 nước khác. Tuy nhiên, ở Việt Nam, từ thời Hồng Bàng đã có Kinh Dương Vương và Hùng Vương, nhưng chỉ đến thời Lý Nam Đế và Mai Hoắc Đế mới xưng Đế mà chưa xưng Hoàng đế. Đây là sự khẳng định nước Nam cũng có Nam Đế giống với Bắc Đế ở Trung Quốc. Tuy nhiên, chỉ có Lý Nam Đế và Mai Hoắc Đế mới xưng Đế mà chưa xưng Hoàng đế, và chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, sau đó đất nước lại chìm trong thời kỳ Bắc thuộc. Đinh Tiên Hoàng được coi là người xưng hoàng đế đầu tiên ở Việt Nam. Việc này đã đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử đất nước. Sử gia Lê Văn Hưu cho rằng Đinh Tiên Hoàng là bậc thánh triết của dân tộc, và việc ông lên ngôi Hoàng đế có thể là ý Trời vì nước Việt ta mà sinh ra. Trong khi đó, sử gia Lê Tung cho rằng vua chính thống của nước Việt ta thực sự bắt đầu từ Đinh Tiên Hoàng.